Những chuyển động mới trong chính sách thu hồi đất, bồi thường, tái định cư
Sau bốn năm thực hiện Nghị quyết số 18 - NQ/TW năm 2022, về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách đất đai, rất nhiều chính sách đã được thể chế hóa, trong đó có Luật Đất đai 2024.
Song, thực tiễn vẫn đặt ra yêu cầu tiếp tục tháo gỡ những vướng mắc liên quan đến thu hồi đất, xác định giá đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Đồng thời, đòi hỏi một cách tiếp cận hài hòa hơn giữa yêu cầu khơi thông nguồn lực đất đai với bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân.
Thực tế, đã có những chuyển động đáng chú ý như sự thay đổi tư duy đối với người có đất trong diện thu hồi. Tại bài phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, ngày 20/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu Trung ương cần làm rõ việc chuyển quản lý đất đai từ từng thửa đất sang quản trị không gian; từ nặng về thủ tục sang khơi thông, tạo lập nguồn lực; đặc biệt là từ “bồi thường tài sản sang tái thiết cuộc sống, bảo đảm chỗ ở, sinh kế và điều kiện sống tương đương hoặc tốt hơn”. (Trích phát biểu).
Tinh thần này được cụ thể hóa rõ hơn trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan (Nghị quyết số 21-NQ/TW), ngày 28/7/2026. Nghị quyết xác định: Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm hài hoà lợi ích, giảm thiểu khiếu kiện, ổn định đời sống Nhân dân và đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án.
Trong đó, Nghị quyết 21 đặt ra chủ trương tách dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án độc lập để thực hiện trước; yêu cầu các dự án tái định cư phải bảo đảm hạ tầng, dịch vụ thiết yếu và quan tâm đến sinh kế người dân; đồng thời mở thêm dư địa để địa phương quyết định chính sách hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tế và đặc thù từng dự án.
Trao đổi với Reatimes, PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến, Trưởng khoa Pháp luật Kinh tế - Trường Đại học Luật Hà Nội, Trưởng Ban Pháp chế Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) cho rằng, những định hướng về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư được Trung ương đặt ra tại Nghị quyết 21-NQ/TW cho thấy bước chuyển biến đáng chú ý trong tư duy chính sách, chủ động chuẩn bị điều kiện để người dân ổn định cuộc sống lâu dài.
Theo ông Tuyến, nếu công tác tái định cư được chuẩn bị chu đáo, đi trước một bước, quỹ đất, quỹ nhà cùng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội tại nơi ở mới sẽ có điều kiện được chủ động hơn.
“Khi những băn khoăn về chỗ ở, việc làm và sinh kế được giải quyết sớm, quyền lợi của người dân được bảo đảm tốt hơn, đồng thời sự đồng thuận xã hội cũng có thể trở thành một nguồn lực quan trọng giúp đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng và triển khai dự án”, PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến nhìn nhận.
Nghị quyết 21 cũng yêu cầu làm rõ tiêu chí dự án và phạm vi thu hồi đất đối với các trường hợp thật sự cần thiết vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, theo hướng bảo đảm chặt chẽ, tránh lạm dụng nhưng không tạo thêm rào cản cho quá trình triển khai dự án.
“Nghị quyết cũng định hướng Nhà nước thu hồi phần diện tích còn lại của dự án trong trường hợp nhà đầu tư đã thỏa thuận được phần lớn diện tích và nhận được sự đồng thuận của đại đa số người sử dụng đất trong phạm vi thực hiện dự án”, theo PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến.
PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến cũng cho rằng việc sửa đổi chính sách lần này cần đặt trong yêu cầu thay đổi tư duy quản trị đất đai, hướng tới khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai cho phát triển nhưng đồng thời phải xử lý hài hòa lợi ích giữa các chủ thể.
"Việc hoàn thiện chính sách bồi thường không dừng ở câu chuyện xác định một mức giá phù hợp, mà cần hướng tới bảo đảm sự ổn định lâu dài của người dân sau thu hồi đất", PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến nhìn nhận.
Để tư duy "tái thiết cuộc sống" đi vào thực tiễn
Ở khâu thực thi, một trong những thay đổi có tác động trực tiếp đến quyền lợi của người dân là cơ chế xác định giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Theo Luật Đất đai 2024, trường hợp bồi thường bằng tiền được xác định theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trong khi đó, từ ngày 1/1/2026, Nghị quyết số 254/2025/QH15 đã điều chỉnh cơ chế theo hướng sử dụng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất làm căn cứ xác định tiền bồi thường.
Theo PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến, sự chuyển đổi giữa hai cơ chế có ảnh hưởng lớn tới quyền và lợi ích của người trong diện thu hồi đất, do đó cần được thể chế hóa đồng bộ, rõ ràng và bảo đảm khả năng phản ánh sát thực tế. Đặc biệt, khi bảng giá đất và hệ số điều chỉnh ngày càng giữ vai trò quan trọng trong xác định giá trị bồi thường, chất lượng dữ liệu đầu vào trở thành một trong những yếu tố quyết định.
"Để bảng giá đất có thể giải quyết tương đối hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân, hệ thống thông tin đầu vào, cơ sở dữ liệu đất đai phải đầy đủ, "đúng, đủ, sạch, sống" và được cập nhật kịp thời", ông Tuyến nhấn mạnh.
Cùng với những thay đổi về cơ chế chính sách, thực tiễn tại một số địa phương cho thấy cách tiếp cận đối với bồi thường, tái định cư cũng đang từng bước được cụ thể hóa theo hướng quan tâm nhiều hơn tới quá trình ổn định cuộc sống sau thu hồi đất.
Đơn cử tại TP. Hà Nội, tính đến tháng 5/2026, địa phương này cùng lúc triển khai khoảng 1.428 dự án có yêu cầu giải phóng mặt bằng, trong đó có 27 công trình, dự án lớn, trọng điểm.

Các địa phương đang từng bước được cụ thể hóa việc bồi thường, tái định cư theo hướng quan tâm nhiều hơn tới quá trình ổn định cuộc sống sau thu hồi đất. (Ảnh minh hoạ: Trọng Hiếu)
Trước áp lực lớn về tiến độ, Thành phố xác định công tác giải phóng mặt bằng phải gắn với bố trí tái định cư và bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân; đồng thời yêu cầu các điều kiện phục vụ tái định cư, như quỹ đất, quỹ nhà, nguồn vốn, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tại nơi ở mới, phải được chuẩn bị “đi trước một bước”.
Cùng với yêu cầu đẩy nhanh tiến độ, Thành phố cũng nhấn mạnh công khai, minh bạch phương án bồi thường, tăng cường đối thoại trực tiếp với người dân và giải quyết vướng mắc từ cơ sở. Hà Nội cũng đang rà soát, đầu tư các khu đô thị đa mục tiêu có chức năng phục vụ tái định cư tại những vị trí thuận lợi, hướng tới bảo đảm người dân có nơi ở và điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
Ở cấp độ chính sách, Quyết định 40/2026/QĐ-UBND của Hà Nội cũng dành nhiều nội dung cho giai đoạn sau thu hồi đất. Đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, mức hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm được xác định bằng 5 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất của Thành phố. Chính sách hỗ trợ ổn định đời sống được thiết kế theo tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp trong diện thu hồi và việc người dân có phải di chuyển chỗ ở hay không; người có đất ở trong diện thu hồi trong thời gian chờ tái định cư được bố trí tạm cư hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà nếu tự lo chỗ ở.
Những quy định trên phần nào cho thấy Hà Nội đang từng bước mở rộng phạm vi hỗ trợ từ bồi thường giá trị đất, tài sản sang giải quyết những xáo trộn phát sinh trong quá trình chuyển đổi nơi ở và sinh kế.
Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến, đây chỉ là một lát cắt từ thực tiễn địa phương. Bài toán lớn hơn đặt ra đối với quá trình thể chế hóa Nghị quyết 21 là làm thế nào để những yêu cầu về sinh kế, điều kiện sống và khả năng thích nghi sau tái định cư trở thành một phần thực chất trong phương án thu hồi đất ở các địa phương, phù hợp với đặc điểm từng khu vực và từng nhóm người dân.
"Nếu chính sách chỉ tập trung vào việc bồi thường bằng tiền thì rất khó giải quyết căn cơ vấn đề. Một khoản tiền có thể giúp bù đắp giá trị tài sản tại thời điểm thu hồi, nhưng khó bảo đảm cuộc sống lâu dài nếu người dân đồng thời mất đi tư liệu sản xuất, địa điểm kinh doanh hoặc nguồn thu nhập gắn với đất", chuyên gia chỉ ra và cho rằng, bên cạnh việc bồi thường bằng tiền, cần tạo ra một hệ sinh thái sinh kế để người thuộc diện thu hồi đất có thể được hưởng lợi từ chính phần đất mà họ đã giao để thực hiện dự án.
PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến dẫn thực tế tại một dự án lớn đang triển khai tại Quảng Ninh, con em của những gia đình có đất thu hồi được thu hút vào làm việc, qua đó có thêm việc làm và thu nhập. Khi người dân nhìn thấy cơ hội tiếp tục tạo ra thu nhập từ quá trình phát triển mới, sự đồng thuận đối với thu hồi đất cũng sẽ được củng cố.
Mặt khác, chính sách phục hồi sinh kế khó có thể áp dụng theo một công thức chung. "Người không còn đất sản xuất cần những giải pháp khác với người phải di chuyển nơi ở; hộ kinh doanh lại có những nhu cầu khác với người lao động có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp. Do đó, cùng với việc chuẩn bị quỹ nhà, quỹ đất tái định cư, có thể cần tính toán sâu hơn ngay từ khâu lập phương án về khả năng tạo việc làm, đào tạo nghề, duy trì hoạt động sản xuất - kinh doanh và cơ hội để cộng đồng dân cư tham gia vào những giá trị mới được tạo ra từ dự án", ông Tuyến gợi mở.
Khái niệm “tái thiết cuộc sống” cũng đặt ra yêu cầu về một thước đo đầy đủ hơn đối với hiệu quả của công tác giải phóng mặt bằng. Diện tích đất đã bàn giao, số hộ đã nhận tiền hay số suất tái định cư đã bố trí vẫn là những chỉ tiêu cần thiết, nhưng chưa thể phản ánh hết kết quả của chính sách. Cần nhìn xa hơn là sau một khoảng thời gian di dời, thu nhập, việc làm, khả năng tiếp cận trường học, y tế, giao thông và các dịch vụ thiết yếu của người dân đã được duy trì, cải thiện ra sao.
"Nếu những yếu tố này từng bước được đưa vào quá trình thiết kế và đánh giá phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tư duy “tái thiết cuộc sống” sẽ có cơ sở để đi từ chủ trương vào thực tiễn. Một chính sách tạo được cuộc sống ổn định hơn sau thu hồi đất cũng chính là nền tảng tạo đồng thuận, giảm khiếu kiện và khơi thông nguồn lực đất đai cho phát triển bền vững", PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến nhấn mạnh.
Theo Thu Ngà Reatimes.vn
